TRÒN 200 NĂM TRƯỚC, NGUYỄN DU MẤT TRONG ĐỢT DỊCH TẢ


Tưới rượu lên mộ Nguyễn Du tại Lễ giỗ lần thứ 199.

Năm nay dịch viên phổi Vũ Hán (Covid -19) đã hoành hành tại Trung Quốc, Hàn Quốc, I ran và trên 100 nước trên thế giới, làm thế giới đảo lộn. Tính đến 10/3, bênh dịch quái ác này đã cướp đi trên 4000 sinh mạng trong đó có nhiều người là những tài năng hiếm có của nhân loại. Từ sự kiện này ta nhớ đến trận dịch tả  kinh hoàng ở nước ta cách nay 200 năm (năm 1820), đã cướp đi của đất nước ta một thiên tài: Đại thi hào Nguyễn Du.
Về sự kiện này, Đại Nam thực lục Chính biên tập 2 có ghi: Năm 1820 (Minh Mạng năm đầu), tháng 6 dịch (tả) phát từ mùa thu sang mùa đông, bắt đầu từ Hà Tiên, sau rốt đến Bắc Thành. Số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, không kể số nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Trước sau chẩn cấp tổng kê hơn 73 vạn quan tiền.
Thực lục chép: "Hữu Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Du chết. Du là người Nghệ An rộng học giỏi thơ, càng giỏi về quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói gì. Vua từng dụ rằng : “Nhà nước dùng người, duy có tài là dùng, vốn không có coi nam bắc khác nhau. Khanh cùng Ngô Vị đã được tri ngộ làm quan đến chức á khanh, nên điều gì biết thì nói ra hết, dâng điều hay sửa điều dở, để hết chức mình. Sao cứ rụt rè sợ hãi, chỉ việc vâng dạ !”. Đến bây giờ có mệnh sai sang nước Thanh, chưa đi thì chết. Vua thương tiếc, cho 20 lạng bạc, 1 cây gấm Tống. Khi đưa tang về lại cho thêm 300 quan tiền". Năm đó Đại thi hào Nguyễn Du 54 tuổi.
Nhà vua rất lo về dịch lệ, từng ở trong cung trai giới và cầu đảo ngầm. Trấn thần Phú Yên là Nguyễn Văn Quế đem tình hình bệnh dịch trong trấn dâng biểu xin chịu tội. Vua bảo rằng : “Trẫm không có đức, trên can phạm hoà khí của trời, bốn phương có dịch đều là lỗi trẫm”. Nhân sai Phạm Đăng Hưng theo ý ấy mà soạn dụ. Đăng Hưng tâu rằng : Gặp tai vạ biết lo sợ, vốn là thịnh đức của đấng nhân quân. Nhưng thần nghe bệnh dịch từ Tây dương sang, bệ hạ hà tất lấy làm tội của mình”.
Vua nói : “Nếu trẫm không thiếu đức thì tai vạ ở nước ngoài vào làm sao được. Nguyễn Văn Quế chỉ là một mục thú còn tự nhận là lỗi mình, huống trẫm là vua thiên hạ, có thể chối lỗi được sao ?”.
Lấy thuốc viên chữa dịch mới chế chia cho bầy tôi. Xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Chiếu rằng : “Trẫm nghe đường ngôn luận mở rộng thì nước mới trị… Trẫm thấy thân nhỏ bé, nối nghiệp lớn lao... Nay bỗng gặp khí trời không hoà, nhân dân khó sống, có lẽ là chính sự có điều gì thiếu sót chăng, ẩn tình của dân có chỗ chưa suốt đến chăng ? Người muốn thấy hình của mình, tất nhờ ở gương sáng ; vua muốn nghe lỗi của mình, tất phải đợi ở tôi ngay. Vậy cho các văn võ ở Kinh từ Tứ phẩm trở lên, các quan thành dinh trấn ở ngoài đều lo cố gắng, đua nhau đối đáp rõ rệt, hoặc lỗi chính ở trẫm, về kính đức nối sáng có thiếu, về nhân ân yêu giữ chưa tròn. Vậy lấy chư thần làm bầy tôi pháp độ, làm kẻ sĩ giúp vầy, như đá để trị ngọc, như đá để mài vàng, chớ như lời nói của mình quý như vàng ngọc mà giấu, cần phải chỉ ngay vào điều lỗi không kiêng kỵ gì… may ra trên báo đáp được lòng trời, dưới chữa sống được bệnh dân, để cùng hưởng phước thái bình”.
Có thể nói, từ quan địa phương đến vua Minh Mạng đều tự xét lỗi của mình khi dịch bệnh xảy ra, ngoài niềm tin về mệnh trời thời đó, còn cho thấy nhân cách của người lãnh đạo, dám nhận trách nhiệm và tìm biện pháp khắc phục. Cách quản trị đất nước hồi xưa cũng có những điều hay như thế./.

Phan Nguyễn Khiêm

Không có nhận xét nào:

THƯ NGỎ

Kính thưa quý vị!      Nguyễn Du (1765-1820) là Đại thi hào của dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hóa Thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp của ông ...