TRUYỆN KIỀU VÀ VẤN ĐỀ KINH DOANH VÀI NÉT TỔNG QUAN

LTS: Xin tiếp tục giới thiệu tham luận tại Hội thảo: “Doanh nhân với Truyện Kiều & Truyện Kiều với doanh nhân”. Bài 2 

Tác giả trình bày tham luận tại Hội thảo. Ảnh TVS
TRẦN ĐÌNH TUẤN
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với nền kinh tế thị trường trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hoá và thế giới đang hướng đến Xã hội tri thức (Báo cáo Thế giới 2005 của UNESCO đã lấy nhan đề là Hướng tới các Xã hội tri thức). Doanh nghiệp Việt Nam buộc phải khẳng định mình trước các vấn đề lớn: Anh là ai (quốc gia, dân tộc)? Có trách nhiệm gì với xã hội? Sứ mệnh của anh đóng góp được gì cho lợi ích cộng đồng. Và anh có thể sử dụng tri thức trong mọi lĩnh vực để phục vụ, phát triển con người một cách công bằng, an sinh và bền vững?...
Do đó, dù là một doanh nghiệp nhỏ, vừa, lớn; dù chỉ hoạt động trong phạm vi hẹp như địa phương, quốc gia nhưng cũng phải thực hiện toàn bộ các vấn đề trên bởi các hàng rào thuế quan giữa các nước được xoá bỏ và phải cạnh tranh với hàng hoá các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên địa phương, quốc gia của mình.
Vì thế, việc xây dựng Văn hoá doanh nghiệp Việt là yếu tố quan trọng hàng đầu, bức thiết và là nhiệm vụ chính trị hiện nay của doanh nhân. Trước xu thế đó, ngày 7.11. 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu tại lễ công bố Ngày Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam - 10/11 và phát động cuộc vận động “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam”.
Hội Kiều học được thành lập và chính thức hoạt động từ 3-11-2011, đánh dấu bước ngoặt lớn trong việc nghiên cứu và ứng dụng giá trị Truyện Kiều vào đời sống xã hội, góp phần nâng cao dân trí, thúc đẩy một xã hội học tập - một yếu tố căn bản để xây dựng Xã hội tri thức. Việc Hội Kiều học tổ chức Hội thảo: “Doanh nhân với Truyện Kiều & Truyện Kiều với doanh nhân” là một bước đi quan trọng, hợp xu thế thời đại để góp phần thực hiện Xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam”. Đồng thời mở ra vấn đề nghiên cứu mới nhằm ứng dụng giá trị Truyện Kiều vào đời sống xã hội, cụ thể với vấn đề kinh doanh trong xã hội hiện nay là hoàn toàn khoa học. Điều đó có nghĩa là cần phải đánh giá và chỉ ra mối quan hệ giữa Truyện Kiều với việc kinh doanh và Doanh nhân có thể học hỏi, vận dụng giá trị Truyện Kiều như thế nào?
1. Truyện Kiều - như một đối tượng trực tiếp được khai thác kinh doanh.
+ Truyện Kiều, tác phẩm được xuất bản nhiều nhất: Truyện Kiều ra đời trở thành một tác phẩm được lưu truyền và ăn khách nhất. Năm 1866, ấn bản Truyện Kiều chữ Nôm (khắc gỗ) là bản Truyện Kiều cổ nhất được tìm thấy do Liễu Văn đường phát hành và tái bản 1871. Có thế thấy các nhà in thời cổ nổi tiếng như Thịnh Mỹ đường, Quan Văn đường, Phúc Văn đường, Quảng Thịnh đường, Bảo Hoa các, các nhà in ở Hà Nội, Sài Gòn... đều không thể không tham gia xuất bản Truyện Kiều. Điều đó có thể hiểu nhu cầu xuất bản Truyện Kiều quá lớn và ngược lại, Truyện Kiều đã góp phần làm nên thương hiệu của các nhà in đó. Ngày nay, hầu hết các nhà xuất bản trên toàn quốc và các nhà sách tư nhân đều đã tham dự việc xuất bản và phát hành Truyện Kiều. Không thể thống kê nổi một con số chính xác bởi việc đó là khó có thể, và nó nằm ngoài sức tưởng tượng, nhưng có thể khẳng định đó là siêu lợi nhuận ở thể loại truyện thơ có thể mang lại từ một tác phẩm.
+ Tranh vẽ chủ đề Kiều, nhân vật Truyện Kiều, câu đối Kiều được khai thác tối đa trên các vật dụng đời sống: trên nhiều loại hình nghệ thuật dân gian như tranh tứ bình, tranh Đông Hồ, tranh in trên gốm sứ với các vật dụng như bình phong, khảm trai, lọ bình, ấm chén, bát đĩa... Nhiều tranh dân gian, vật phẩm trở thành đồ cổ đắt giá của các nhà sưu tập.
+ Truyện Kiều, chủ đề ăn khách của nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, điện ảnh:  
Có lẽ xuất hiện sớm nhất trên sân khấu nghệ thuật do gánh hát Cải lương Châu Văn Tú (Năm Tú) trình diễn lần đầu tiên năm 1920 ở Mỹ Tho với vở Kim Vân Kiều 1 cùng các liên ca Kim Kiều hạnh ngộ, Viên Ngoại hàm oan, Kiều mộng Đạm Tiên, Từ Hải của của Trương Duy Toản soạn. Năm 1958 vở Kiều - Hoạn Thư (Hoạn Thư ghen) được Đoàn cải lương Hoa Mai dựng và diễn nhân lễ kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du. Vở Thúy Kiều của Việt Dung và Sĩ Tiến được Đoàn chuông vàng ở Hà Nội trình diễn hơn 1.000 đêm. Vở Kiều của nhà hát cải lương Hà Nội công diễn ở Thụy Sĩ 12 đêm liền năm 1995. Các vở Kim Kiều tái hợp của Sĩ Tiến, vở Kiều tái hồi Kim Trọng là các vở diễn thành công của đoàn Cải lương Quyết Tiến (Bắc Thái) diễn trong những năm 1960. Năm 1993, Kiều lại tái sinh trên sân khấu thủ đô qua vở diễn Kiều của Nhà hát Cải lương Hà Nội (với sự hợp nhất của hai đoàn Cải lương nổi tiếng là Kim Phụng và Chuông Vàng), tác giả Việt Dung, đạo diễn NSND Ngọc Dư.
Về ca kịch bài chòi, có hai vở là Kiều - Từ Hải của tác giả Nguyễn Tường Nhẫn chuyển thể, và Ngàn thu vọng mãi của cố nhà thơ Lưu Trọng Lư. Cả hai vở đều do Đoàn ca kịch Liên khu 5 biểu diễn.
Sân khấu chèo vẫn còn lưu giữ được những băng hình trích đoạn như Tú Bà đánh Kiều diễn ở miền Bắc những năm 1950. Gần đây, năm 2015, vở Hoạn Thư ghen do nhà biên kịch Phương Văn soạn, được chuyển thể chèo  diễn ở chiếu chèo làng Chuông (Ninh Giang – Hải Dương) do Hội Kiều học đồng tổ chức.
Truyện Kiều cũng đã bước vào điện ảnh rất sớm. Bộ phim Kim Vân Kiều do hãng phim và chiếu bóng Đông Dương (Indochine films et cinémas) của Pháp quay tại Hà Nội và làm hậu kỳ ở Pháp. Diễn viên do Đoàn tuồng Quảng Lạc ở Hà Nội thực hiện. Chúng ta biết rằng, điện ảnh thế giới ra đời năm 1885, nhưng phim truyện trên thế giới cũng chỉ mới xuất hiện sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) Ngày 19-9-1924 phim Kim Vân Kiều được công chiếu buổi đầu tiên tại rạp Casino ở Sài Gòn.
Năm 2016, phim tài liệu “Trăm năm trong cõi Truyện Kiều” của Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn, do Hội Kiều học tổ chức xây dựng đã phát sóng toàn quốc.
Vở kịch Hình thể Nguyễn Du với Kiều do NSND Lan Hương biên kịch, đạo diễn vừa được Nhà hát Tuổi Trẻ phục dựng và lựa chọn tham gia Liên hoan quốc tế sân khấu thử nghiệm tại Hà Nội năm 2012.
Vở kịch “Kiều” do NSND Phạm Anh Tú làm đạo diễn, nhà văn Nguyễn Hiếu chuyển thể kịch bản, do Nhà hát Kịch Việt Nam dàn dựng sẽ thể nghiệm nhiều loại hình nghệ thuật mới công diễn tháng 3/2017.
Vở Hợp xướng Truyện Kiều dài 65 phút của nhạc sĩ Vũ Đình Ân được biểu diễn bởi dàn hợp xướng nhạc hàn lâm kết hợp với nhạc dân ca đã xuất hiện lần đầu trên sân khấu ca múa nhạc hiện đại Việt Nam năm 2009.
Kiều ca - tác phẩm minh hoạ âm nhạc của Phạm Duy đã rất thành công. Tạp chí "Xưa và Nay" và Hiệp hội UNESCO Hà Nội đã tổ chức tại Bảo tàng Cách mạng VN năm 2009, do chính Phạm Duy dẫn chuyện. Kiều ca đã được in đĩa CD và phát hành tại hải ngoại gây được tiếng vang lớn.
+ TK, điểm tựa cho thú chơi và loại hình kinh doanh mới.
Câu lạc bộ Café Kiều ở Vinh, Vườn Kiều và Đại lộ Kim Vân Kiều ở Đồng Nai của ông Phạm Văn Khoát thu hút nhiều lượt người đến thăm quan và sinh hoạt. Hoặc như Bài bói Kiều (được thiết kế dưới dạng 52 tấm thẻ thơ  Kiều giống như bộ tú lơ khơ với 52 quân) của ông Phạm Đan Quế chế tác đã được xuất bản năm 2012... Tết năm 2017, Công ty TNHH An Hảo đã đưa ra thị trường Bộ lịch Truyện Kiều đặc biệt gồm 365 tranh minh hoạ TK cùng thơ Kiều đã được đông đảo người tiêu dùng đón nhận.
Và còn nhiều hoạt động kinh doanh, sáng tạo nghệ thuật khác dựa trên Truyện Kiều mà chúng tôi không thể thống kê và mô tả hết ở đây.
Thống kê trên cho thấy sức ảnh hưởng Truyện Kiều đến mọi lĩnh vực cuộc sống từ xưa cho đến nay. Điều đó có ý nghĩa rằng, Truyện Kiều vẫn là một chủ đề nóng được toàn dân Việt quan tâm tạo nên một thị trường mở, đầy tiềm năng để các doanh nhân chủ động sáng tạo khai thác.
2. Nghiên cứu Truyện Kiều, thực hiện các tác phẩm chủ đề Kiều, Nguyễn Du như một chứng chỉ nghề nghiệp trường đời, làm nên tên tuổi nhà nghiên cứu, các văn nghệ sĩ và thương hiệu Doanh Nghiệp.
+ Giới bình dân coi thơ Kiều là thước đo là người yêu thơ, sính thơ và sành thơ.
Trong TK, Khi Từ Hải và Kiều gặp gỡ nhau có đoạn:
Nàng rằng: “Người dạy quá lời,
Thân này còn dám xem ai làm thường!
Chút riêng chọn đá thử vàng,
2188. Biết đâu mà gởi can tràng vào đâu?
Còn như vào trước ra sau,
           Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?”
Từ rằng: “Lời nói hữu tình,
2192. Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên quân.
Bình Nguyên quân tên Triệu Thắng, đời Chiến quốc, biết nhìn người, hào hiệp, nuôi đến ba ngàn thực khách. Câu thơ của Cao Thích nói về ông: "Chẳng biết gan mật hướng vào ai, Khiến người ta lại nhớ đến Bình Nguyên quân". Câu 2188. Kiều nói: "Biết đâu mà gửi càn tràng (gan ruột)... " là Kiều nói cái tứ thơ của Cao Thích mà bỏ lửng vế sau (Ngụ ý liệu có thể trông dựa vào Từ Hải và cũng có cái ý thử đo cái hiểu biết văn chương của Từ Hải). Từ Hải trả lời ở câu 2192: "Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên quân" tức là đọc nốt vế sau của câu thơ Cao Thích mà đáp lại, vừa thể hiện sự hiểu biết văn chương, vừa ví mình với Bình Nguyên quân, tức là Kiều có thể trông dựa, gửi gan ruột được.
Đó chính là cái thú ứng đối thơ, thú chơi chữ tao nhã của người xưa mà Nguyễn Du đã khéo léo phán ánh trong Truyện Kiều. Người Việt là một dân tôc yêu thơ, sành thơ và sính thơ. Bất kì người dân Việt nào dù mù chữ cũng thuộc dăm ba câu thơ Kiều. Và thơ Kiều trở thành những câu thơ điển hình để mọi người có thể tỏ ra là người yêu văn chương, thơ ca qua các sinh hoạt như lẩy Kiều, đố Kiều, đối Kiều và chua Kiều... không phân biệt kẻ bình dân với các bậc túc Nho.
+ Các nhà Nho, học giả, dịch giả, nhà văn, nhà thơ, các nhà khoa học là người Việt dường như ai cũng có thơ phú về Kiều, có các công trình lớn nhỏ hoặc các bài nghiên cứu về TK như một chứng chỉ nghề nghiệp trong trường đời. Những tên tuổi lớn có thể kể như: Kiều Oánh Mậu, Trương Vĩnh Ký, Chu Mạnh Trinh, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Dương Quảng Hàm, Tản Đà, Đào Duy Anh, Nguyễn Bính, Tố Hữu... Và gần đây nhất là tác giả Phạm Đan Quế với 4 bằng kỷ lục nghiên cứu về Truyện Kiều.
+ Minh hoạ Truyện Kiều, Nguyễn Du làm nên tên tuổi các hoạ sĩ, nhà điêu khắc...
Tranh minh hoạ Truyện Kiều (tranh tác phẩm, tranh minh hoạ, tranh dân gian) nhiều thể loại được giới hoạ sĩ, các nhà điêu khắc khai thác tối đa. Có nhiều tranh dân gian, nhiều tranh quý hiếm khuyết danh (do không tìm được tác giả). Nhiều tranh minh hoạ đã làm nên tên tuổi các hoạ sĩ như Tạ Thúc Bình, Mạnh Quỳnh, Lê Lam, Tú Duyên, Mai Hoa, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Đệ, Lưu Văn Sìn, Nguyễn Đỗ Cung... Đặc biệt tranh sơn dầu khổ lớn “Chàng Vương quen mặt ra chào / Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa” của họa sĩ Lê Chánh được trưng bày ở phòng khách Dinh Độc Lập, nay là Hội trường Thống nhất Tp. HCM. Độc đáo hơn cả là bộ tranh lụa về Kiều được ra mắt năm 2011 của họa sĩ Ngọc Mai. Bà đã mất 12 năm để hoàn thành 28 bức tranh và đã xuất bản thành sách Tranh lụa Kiều (NXB Văn học).
Tượng Nguyễn Du đặt tại Trung tâm lưu niệm Nguyễn Du tại Tiên Điền, Hà Tĩnh đã trở thành hình ảnh kinh điển trong tâm trí mọi người trong và ngoài nước và đã được đưa vào con tem dịp kỉ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du của nhà điêu khắc Lê Đình Bảo.
Tem về Nguyễn Du & Truyện Kiều cũng đã được Bưu chính Việt Nam phát hành vào năm 1965. Bộ tem đầu tiên là bộ tem Kỷ niệm 200 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du do hoạ sĩ Nguyễn Hiệp thiết kế, in tại nhà in Tiến Bộ, gồm 4 mẫu: 1 – Sông Lam, núi Hồng Lĩnh; 2- Khu lưu niệm Nguyễn Du; 3- Cảo thơm trước đèn; 4 – Kiều báo ân, báo oán.
Đến năm 2015, Quyết định bổ sung bộ tem “Kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du (1765 - 1820)” gồm 1 mẫu tem vào Chương trình phát hành tem bưu chính năm 2015 đã được Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng ký ban hành ngày 21/7/2014. Quyết định nêu trên được Bộ TT&TT ban hành trên cơ sở xem xét đề xuất của Hội Kiều học Việt Nam. Hội Kiều học Việt Nam là đơn vị tư vấn (tôi - Trần Đình Tuấn là tư vấn chính cho nội dung) cho Bộ tem “Kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du (1765 - 1820)” phát hành 05/12/2015 gồm 01 mẫu tem và 01 blốc do hoạ sỹ Nguyễn Du (Tổng công ty Bưu điện Việt Nam) thiết kế với khuôn khổ tem 32 x 43 mm, blốc 90 x 90 mm.
+ Nghiên cứu Truyện Kiều, thực hiện các tác phẩm chủ đề Kiều thúc đẩy thương hiệu doanh nghiệp.
Các tổ chức xuất bản các nhà nước và tư nhân, các đoàn nghệ thuật biểu diễn, công ty sản xuất chương trình, các tổ chức đấu giá nghệ thuật ... rất chú trọng thực hiện các chương trình kinh doanh hoặc tổ chức sự kiện liên quan đến Truyện Kiều vì nó dường như đảm bảo chắc chắn lợi nhuận và là cơ hội quảng bá thương hiệu tốt.
3. Lẩy Kiều thường được các chính khách sử dụng để biểu đạt nỗi lòng, trách nhiệm hay thông điệp ngoại giao. Lẩy kiều đầy đủ tính năng của Slogan, Motto - một loại tài sản vô hình của doanh nghiệp, giúp các công ty củng cố, định vị thương hiệu và thể hiện rõ sự khác biệt.
Vì mỗi câu thơ Kiều có sức khả năng biểu đạt trọn vẹn một bối cảnh, một tâm trạng dưới dạng câu hoàn chỉnh nên nó có khả năng độc lập ngoài ngữ cảnh và hoà nhập vào bối cảnh mới. Do tính năng đó các chính khách thường lẩy Kiều nhằm gửi gắm nỗi lòng hay một thông điệp ngoại giao gây thiện cảm với hàng triệu người Việt.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người lẩy Kiều nhiều nhất. Đến ngay trong Di chúc thiêng liêng, Bác Hồ căn dặn đồng chí, đồng bào: Còn non, còn nước, còn người/ Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay. Năm 2011, ông Nguyễn Phú Trọng kết thúc nhiệm kỳ Chủ tịch Quốc hội. Sau khi nhận bó hoa từ tân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, ông Nguyễn Phú Trọng đã nán lại trên diễn đàn ít phút để chia sẻ cảm giác của mình 4 năm về trước, vào một hoàn cảnh tương tự, tức ngày ông chính thức nhận trọng trách Chủ tịch Quốc hội (năm 2017). Ông nhắc lại chuyện ông đã lẩy hai câu Kiều vào thời điểm đó là "Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn / Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay". Đó cũng là lời chia sẻ của vị nguyên Chủ tịch Quốc hội về trách nhiệm lớn lao trước đất nước, trước nhân dân mà ông phải đón nhận khi đảm đương vị trí quan trọng vào thời điểm đó.
Chính trị gia Mỹ cũng có truyền thống lẩy Kiều trong ngoại giao với Việt Nam.
Năm 1995 khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt đã tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước, gác lại quá khứ và mở ra một chương mới trong lịch sử hai nước. Tháng 11/2000, chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam trên cương vị Tổng thống Mỹ, ông Bill Clinton cũng đã lẩy Kiều trong tiệc chiêu đãi trọng thể do Chủ tịch nước Trần Đức Lương chủ trì: “Sen tàn cúc lại nở hoa / Sầu dài ngày ngắn, Đông đà sang Xuân” để chuyển tải thông điệp về phát triển tất yếu quan hệ Việt - Mỹ: Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai tươi sáng mà cả hai nước đều có trách nhiệm xây dựng.
Ông Joe Biden, Phó Tổng thống Mỹ, trong cuối phần phát biểu tại buổi tiệc tiếp ông TBT Nguyễn Phú Trọng ngày 7.7.2015, cũng đã Lẩy 2 câu Kiều: “Trời còn để có hôm nay / Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời” nhằm bày tỏ hy vọng vào tương lai tươi sáng của quan hệ song phương sau một giai đoạn lịch sử khó khăn.
Obama - Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam tháng 5/2016, ông lẩy Kiều như một cam kết lòng tin trước hàng ngàn người ở Hà Nội: "Rằng trăm năm cũng từ đây / Của tin gọi một chút này làm ghi”.
Bên cạnh xu hướng các chính khách lẩy Kiều, các văn nghệ sĩ cũng thường đưa câu Kiều có giá trị như một slogan cho thông điệp trang Web cá nhân của mình.
Thực tế hiện nay chưa thấy có Slogan, Motto nổi tiếng của doanh nghiệp nào áp dụng các hình thức lẩy Kiều hoặc khai thác ý tưởng từ Truyện Kiều. Có lẽ, các doanh nhân chưa ý thức được mối liên hệ thơ Kiều với cấu trúc các Slogan, Motto, vì vậy vấn đề này cũng là nhiệm vụ của toạ đàm cần làm rõ.
Ở đây, tôi có thể đơn cử một vị dụ có thể khai thác Slogan hay Motto từ thơ Kiều. Trong Truyện Kiều, nói về vẻ đẹp tự nhiên, tuyệt sắc, Nguyễn Du thường dùng hai màu sắc “lục – hồng” để nói về vẻ đẹp con gái, phụ nữ nói riêng hoặc của tuổi trẻ nói chung. Điều đó có nghĩa là biểu tượng “lục – hồng” là cái đẹp kinh điển đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt được Nguyễn Du phản ánh cô đọng lại mà thôi. Có rất nhiều câu như: Câu 26: Hoa ghen thua thắm (đỏ, hồng), liễu hờn kém xanh; Câu 90: Nào người tiếc lục tham hồng là ai; Câu 1218: Dường chau nét nguyệt dường phai vẻ hồng; Câu 1305: Mụ càng tô lục chuốt hồng...
Các công ty mỹ phẩm, làm đẹp... đều có thể lựa chọn các mẫu câu trên đây để sử dụng cho Slogan, Motto ở dạng nguyên bản câu thơ hay sửa đổi như: Hoa ghen thua thắm (đỏ, hồng), liễu hờn kém xanh hoặc sửa đổi như: Ngày ngày tô lục chuốt hồng; Sáng tô lục, chiều chuốt hồng...
4. Khai thác ý tưởng từ Truyện Kiều, vận dung giá trị Truyện Kiều
+ Sơ lược giá trị Truyện Kiều
Nói đến giá trị của Truyện Kiều, không thể không nhắc đến câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn...”. Ông cho rằng: “Một nước không thể không có quốc hoa, Truyện Kiều là quốc hoa của ta; một nước không thể không có quốc túy, Truyện Kiều là quốc túy của ta; một nước không thể không có quốc hồn, Truyện Kiều là quốc hồn của ta. Truyện Kiều là cái « văn tự » của giống Việt Nam ta đã «trước bạ» với non sông đất nước này... Đấng quốc sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên Điền ta vậy. Thiên văn khế ấy là gì? Là quyển Truyện Kiều ta vậy.
Như vậy, Truyện Kiều kết tinh cái đẹp Việt (quốc hoa), mang đậm đà bản sắc dân tộc (quốc tuý), phản ánh tinh thần, sức sống của dân tộc (quốc hồn)... Ngày nay, nhiều người coi Truyện Kiều là cuốn kinh của tình thương, là kinh thánh của tâm hồn.
Thực tế, Truyện Kiều cũng đã bước vào vũ đài chính trị như là tiêu biểu cho nền văn hóa Việt Nam. Năm 1968 sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, nhân sự kiện phía địch tìm thấy một cuốn Truyện Kiều cũ kỹ và xơ xác trong hành trang ra trận ở túi áo của tử thi một chiến sỹ trẻ của ta[1], tạp chí The Washingtonian của Mỹ số tháng 4 có đăng bài viết về Truyện Kiều dài 2 trang với dòng tít hấp dẫn “Một tài liệu ly kỳ vừa bắt được tiết lộ tinh thần của địch”. Trong bài viết có hình minh họa Tổng thống Johnson với lời chú thích “Giá như Tổng thống Johnson đã đọc Truyện Kiều thì chắc đã không phải lâm vào tình trạng rắc rối như ngày nay”.
Dạy Truyện Kiều ở Đại học De Anza bang California, Giáo sư John Swensson (thời chiến tranh là Đại tá Mỹ đóng quân ở Củ Chi năm 1966, ở Sài Gòn năm 1968, 1969) nói: “Muốn tìm hiểu con người Việt Nam thì hãy tìm hiểu Truyện Kiều. Có hiểu câu chuyện về sự chịu đựng đằng đẵng 15 năm trời, chịu đủ mọi nỗi đau của Thúy Kiều thì mới hiểu được sự kiên trì cùng sức chịu đựng ghê gớm của người Việt Nam, mới hiểu được tại sao du kích Củ Chi lại có thể đào được hệ thống địa đạo Củ Chi, sống ở dưới đó để rồi cuối cùng vươn lên giành thắng lợi. Tôi thấy ở Truyện Kiều một giá trị để hoàn thiện con người”.
Trong khi đó, Kuroda Yoshiko là nữ thi sĩ sinh tại Kyoto, Nhật bản dịch TK sang tiếng Nhật, bà cho rằng cốt lõi tốt đẹp của tinh thần Việt Nam, và cũng là của Nhật Bản được xây dựng trên những “Lời thề” và đó cũng là lý do bà chọn đặt tên cho Lời bạt cho bản dịch “Truyện Thúy Kiều” là “Thế giới của lời thề”. Bà xem xét “lời hứa” của Thúy Kiều với nhiều nhân vật khác nhau trong tác phẩm và xem việc không thể giữ lời thề nguyền đã chỉ phối như thế nào đến suy nghĩ, hành động, cuộc đời của từng nhân vật trong câu chuyện.
Chúng ta biết rằng, lời hứa, lời thề là nguyên tắc chi phối mọi quan hệ xã hội trong Truyện Kiều. Vì thế, lời hứa lời thề trở thành căn cứ cho luật pháp được thực thi: “Thề sao thì lại cứa sao gia hình”. Điều mà vẫn rất giá trị trong cuộc sông hiện đại hôm nay, đặc biệt với doanh nghiệp và doanh nhân.
Vài nét nhận xét trên cho chúng ta thấy những giá trị cốt lõi tinh thần mà chúng ta đã có qua giá trị của Truyện Kiều. Như vậy, Truyện Kiều có thể được coi như một cẩm nang văn hoá Việt để doanh nhân có thể vận dụng, xây dựng Văn hoá doanh nghiệp Việt cho mình. Mặt khác, cộng đồng hàng triệu người Việt yêu mến Truyện Kiều, Nguyễn Du một lần nữa trở thành lực lượng ủng hộ cho các doanh nghiệp biết khai thác và vận dụng giá trị Truyện Kiều.
+ Khai thác ý tưởng từ Truyện Kiều
Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật đơn thuần mà đã trở thành một “công cụ” để phục vụ cuộc sống. Vì vậy, việc làm sáng tỏ giá trị Truyện Kiều là công việc của quá khứ, hiện tại, tương lai và không có hồi kết.
Chúng tôi xin đơn cử một ví dụ thực tế, sinh động sau:
Lấy ý tưởng từ Truyện Kiều, khai thác ứng dụng giá trị Truyện Kiều vào cuộc sống một cách rõ ràng nhất phải kể đến việc thiết kế xây dựng chùa Quán Sứ (Hà Nội) của cố Kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn (1912-1990). Ông có nhiều công trình kiến trúc được lấy ý tưởng từ Truyện Kiều. Những công trình cụ thể như: Phòng thu thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam ở phố Quán Sứ; nhà giải khát công viên Thống Nhất và đặc biệt là chùa Quán Sứ.
Chùa Quán Sứ được xây dựng vào thế kỷ 15. Năm 1934, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập, chùa Quán Sứ được chọn làm trụ sở trung ương. Năm 1942 chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng do chính Tổ Vĩnh Nghiêm duyệt.
KTS Nguyễn Ngọc Ngoạn tâm sự: “Chùa thấp, dáng dấp, các chùa thông thường, cửu phẩm liên đài vươn lên cao... Chúng tôi nghiêng đầu, ngẹo cổ ngắm... Chúng tôi đến thực địa, đi bên này đường, sang bên kia phố của phần liên đài cao, cao quá, tầm nhìn quá gần lại còn làm chướng mắt chùa. Bỏ đi, chùa thấp, bình thường... không được. Làm ra sao? Chúng tôi băn khoăn, suy nghĩ...
"Chùa đâu trông thấy nẻo xa..." Tôi nghĩ tới câu thơ đó một cách ngẫu nhiên và đặt vấn đề phải làm sao cho trông thấy chùa từ đầu phố... Đưa chùa lên cao: lênh khênh, mất tỷ lệ, vẽ đi vẽ lại không đạt... "Sẵn Quan Âm Các vườn ta", không hiểu sao chữ "Các" nhắc tôi đến "Khuê Văn Các" ở Văn Miếu. Chúng tôi hình dung ngôi chùa hai tầng...
Táo bạo! Lạ kiểu! Quái gở! Đó là những "tiếng bấc, tiếng chì", chúng tôi kiên trì chịu đựng. Như một gáo nước lạnh dội vào: quan điểm của tôn giáo buộc Phật phải "tọa liền với đất...". Ở đây, chúng tôi vấp phải tất cả những cái gì đã ăn sâu vào con người, đã quen thuộc với các ngôi chùa thấp lè tè với chín, mười một gian chi đó... với ấn tượng hai tầng là các nhà Tây mới được nhập cảng...
Tôi chùng tay... Kiến trúc sư Nguyễn Xuân Tùng động viên "phải kiên trì" và chúng tôi mải miết tiếp tục nghiên cứu... Cuối cùng phương án được chấp nhận. Những ấn tượng ban đầu hình như tiêu tan hết và chùa Quán Sứ hai tầng đã được xây dựng... Chúng tôi những người thiết kế - tự nhủ rằng không biết có quá đáng không - đã dám nghĩ, dám làm, đã viết một dòng nhỏ trong trang sử kiến trúc tôn giáo Việt Nam.
Đánh giá đúng mức chùa Quán Sứ phải đặt chùa trong bối cảnh lịch sử của thời đại, trong giai đoạn bao trùm bởi một nền văn hóa nô dịch, trong giai đoạn mà số kiến trúc sư đầu tiên chỉ là đếm trên đầu ngón tay. Còn nó chưa hoàn toàn Việt Nam, nó còn... và còn cái này, cái khác... Thì đó lại là chuyện khác”.
Thay lời kết!
Giá trị Truyện Kiều có thể được nhận định cụ thể, sâu sắc hơn ở từng lĩnh vực cuộc sống tuỳ thuộc vào sự tìm hiểu của các doanh nhân trong từng lĩnh vực đặc thù của doanh nghiệp. Trong bối cảnh các doanh nghiệp cần khẳng định Văn hoá doanh nghiệp Việt Nam thì việc tìm ý tưởng sang tạo từ Truyện Kiều, vận dụng các giá trị Truyện Kiều là con đường ngắn nhất, đúng đắn nhất và có thể chinh phục hàng triệu người Việt vốn yêu mến Truyện Kiều, yêu mến Nguyễn Du cũng như tạo nên sự khác biệt, tạo nên giá trị Việt để có thể khẳng định mình trong thế giới phẳng, trong xu hướng kinh tế toàn cầu hoá và có thể xây dựng Xã hội tri thức.
Chúng tôi hy vọng rằng, Hội Kiều học sẽ là đơn vị tư vấn tốt cho các doanh nhân muốn xây dựng Văn hoá doanh nghiệp Việt Nam từ những giá trị Truyện Kiều.


Tài liệu tham khảo:
- Truyện Kiều, Khảo – Chú – Bình, NXB Lao Động, TS Phan Tử Phùng chủ biên, Phan Văn Các, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Trần Đình Tuấn.
- Truyện Kiều bản UNESCO – Nôm, Quốc ngữ đối chiếu. NXB Lao Động, TS Phan Tử Phùng chủ biên, Phan Văn Các, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Trần Đình Tuấn.
- Tìm hiểu kiến trúc qua Truyện Kiều, KTS Nguyễn Ngọc Ngoạn, Hội Kiến trúc sư xuất bản.
- Và một số bài báo, tạp chí khác....




[1]. “Dẫu súng đạn nặng đường ra hoả tuyến / Đi đường dài, em giữ Truyện Kiều theo” (Gửi Kiều cho em. Thơ Chế Lan Viên)      

SUY NGHĨ VỀ CÂU THƠ “THÚC SINH QUEN THÓI BỐC RỜI, TRĂM NGHÌN ĐỔ MỘT TRẬN CƯỜI NHƯ KHÔNG!

LTS: Nhân Kỷ niệm 197 năm này mất Đại thi hào Nguyễn Du (10-8 Đinh Dậu) và 13 năm ngày doanh nhân Việt Nam 13-10, Hội Kiều học Việt Nam đã phối hợp với Công ty Hanvico tổ chức Hội thảo “Doanh nhân với Truyện Kiều và Truyện Kiều với doanh nhân”.
Tham dự Hội thảo có các Giáo sư: Phong Lê, Nguyễn Đình Chú, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, và trên 100 đại biểu gồm các nhà nghiên cứu, các nhà thơ, các doanh nhân trong khắp cả nước. Hội thảo đã diễn ra sôi nổi và đầy thú vị về việc vận dụng linh hoạt và thiết thực các giá trị Truyện Kiều vào quá trình xây dựng và phát triển doanh nghiệp cũng như xây dựng văn hóa doanh nhân, doanh nghiệp. Hơn 30 tham luận đã được gửi đến Hội thảo. https://hoikieuhochatinh.blogspot.com sẽ lần lượt giới thiệu các tham luận để bạn đọc xa gần tham khảo.

TS Nguyễn Thế Kỷ, UVTW Đảng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, Phê bình VNNT Trung ương, phát biểu tại Hội thảo.
                                                                                                                                                                   Ảnh TVS
                                   Tham luận của Nhà nghiên cứu, dịch giả Lê Đăng Hoan  
       
Thúc sinh là nhân vật được nhiều người khen chê, nhất là qua hành vi “ Trăm ngàn đổ một trận cười như không” của anh ta.
Xét cho cùng đó là một hành vi rất nhân văn. Tôi không nói nhân văn như một nhà Kiều học nói, là để cứu Kiều, có lẽ việc cứu Kiều không xuất phát từ tính nhân văn của Thúc Sinh, mà đó là cứu Kiều về làm vợ.
Nhân văn ở chỗ nó rất con người. Một con người có ham muốn, biết giá trị nào để sử dụng đồng tiền vào đâu cho đúng.
Tôi không bênh vực những đại gia bây giờ, một đêm cùng chân dài có thể chi hàng chục nghìn đô, hay vì một hợp đồng quái quỷ với môt người đẹp mà chi đến hàng chục tỷ đồng. Nhưng tất cả đều có lý của nó.   
Hồi tôi làm việc với một giám đốc người nước ngoài, một hôm đã khuya, ông gọi điện cho tôi hỏi “Công nhân không đồng ý mức lương 36USĐ/tháng, tôi định tăng lên 36 đô rưỡi được không?”(Hồi ấy lương tối thiểu của công nhân trong doanh nghiệp nước ngoài chỉ 35USĐ/tháng ). Tôi nói rằng “Tăng gì mà keo kiệt thế, tăng lên 40 USD/tháng đi”, ông ta dứt khoát không đồng ý, chỉ tăng thế thôi.
Rồi một hôm đi hát Karaoke với ông ta, ngồi bên một cô gái khoảng 1 giờ, lúc về ông ta “bo” cho cô ta 100USD. Tôi ngạc nhiên hỏi “ Sao lại thế, một tiếng đồng hồ, vừa được ăn, uống hát hò, ngồi không làm gì, ông lại cho nhiều thế, mà lương công nhân thì ông kẹt xỉ mấy xu lẻ?”. Ông cười nhìn tôi trả lời rất hóm hỉnh “ Con người mà ông? Sự đời là thế, cô ta xứng được thưởng như thế”.
Như vậy ở đây có hai vấn đề cần được làm rõ:
1/ Những người làm ra tiền, họ có quyền được hưởng thụ văn hóa mà họ ưa thích và họ không cò kè về sự hào phóng, đó là sự hào phóng tự nguyện,
2/ Thế thì tại sao họ lại so đo, như là keo kiệt khi trả công cho người lao động, hay cò kè từng đồng khi giao dịch buôn bán, có phải trình độ văn hóa của họ kém hay không?  
Ở đây có lẽ nên lí giải vấn đề bằng cách nhìn về hưởng thụ văn hóa.
Văn hóa là “Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”.  Thưởng thức văn hóa nghệ thuật là một nhu cầu thiết yếu của con người. Cuộc sống vật chất, kinh tế càng phát triển thì nhu cầu hưởng thụ văn hóa càng cao.
Ông Hà Văn Thạch, UVBTV, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Hà Tĩnh và các Giáo sư:Nguyễn Đình Chú, Trần Đình Sử, nhà thư pháp Thế Anh chụp ảnh lưu niệm với các đại biểu.
                                                                                                                                        Ảnh: TĐT

  Trong thưởng thức văn hóa nghệ thuật thì sắc đẹp là một nội dung không thể thiếu, nếu không nói là nội dung chính của thưởng thức văn hóa nghệ thuật. Thế thì, con người sinh ra, có quyền được thưởng thức những cái đó. Trong tất cả cái đẹp, cái đẹp của con người, của người phụ nữ, mà tạo hóa ban tặng cho họ là đáng để con người chiêm ngưỡng và hâm mộ nhất. Trong các hoạt động của con người thì hoạt động tình dục là hoạt động có ý nghĩa nhất và có tính văn hóa, nhân văn cao nhất.
Thế thì để hưởng thụ được cái hạnh phúc nhất đó, ai lại đi “cò kè”.
(“Cò kè” trong tuyện Kiều, được nói nhiều nhất khi Mã Giàm Sinh mua Kiều. Bao nhiêu lời phê bình cho hành động “Cò kè bớt một thêm hai” của Mã Giám Sinh là vô nhân đạo. Nhưng thực ra “cò kè” đâu phải chỉ có Mã Giám Sinh, vì anh ta cũng chỉ là người đi buôn. Ta có thể phê phán hành động buôn người là vô nhân đạo, nhưng không thể phê phán sự “cò kè” của người đi buôn bán được. Thử hỏi trong tất cả chúng ta, kể từ những doanh nghiệp to, đến các tiểu thương buốn bán nhỏ, khi mua khi bán một vật phẩm nào đó, có ai không “cò kè”!. Thế thì “cò kè” là hiện tượng phổ biến của thương nghiệp. Trong một xã hội mà việc buôn người không bị cấm, thì việc “cò kè” khi mua người cũng là một việc hết sức bình thường.)
Trong cả đoạn nói về quan hệ qua lại của Thúc Sinh và nàng Kiều, không hề có chữ “cò kè”, nói bao nhiêu trả bấy nhiêu, nên mới bị lên án là “bốc rời”. Nhưng cái “bốc rời” của Thúc Sinh là “có lí”. Một nàng Kiều xinh đẹp như thế, “trong ngọc trắng ngà…”như “tòa thiên nhiên”, rồi những cuộc giao hoan “miêt mài” như thế, rồi cái tài, cái thông minh, biện luận tuyệt vời đầy trí tuệ khi Thúc Sinh muốn lấy nàng làm vợ, thì ai lại đi “cò kè” khi được thưởng thức, hay được gần gũi với giá trị văn hóa đỉnh cao, đáng trân trọng như thế.
Cho nên khi có tiền (ngoại trừ đồng tiền bất chính), người ta có quyền được hưởng những gì đẹp nhất do trời ban tặng mà họ không phải đắn đo đắt rẻ.
Vậy thì những đại gia và các nữ chân dài hiện đại, họ có đáng phải chịu sự ghen ghét của xã hội hay không, nếu sự có đi có lại đó được hiểu là một sự hưởng thụ chân chính bằng sức lao động chân chính, bằng sự trao gửi chân tình.
Với cách nhìn ấy, thì “ Trăm nghìn đổ một trận cười..” có lẽ còn rẻ hơn các khách làng chơi đại gia hiện đại!
Còn câu hỏi thứ hai, vấn đề công lao động và lương bổng, việc buôn bán vật phẩm hàng ngày lại là một lĩnh vực hoàn toàn khác.
Tôi không tin rằng trong cái “ ngôi hàng Lâm Tri” của Thúc Sinh, anh ta cũng “bốc rời”. Có lẽ hoàn toàn không. Nếu bốc rời cả trong công việc buôn bán thì tiền đâu mà “bốc rời” nơi hưởng thụ.
Cho nên ở đó anh ta cũng “cò kè”, mà có khi phải “giả dối” đôi chút, vì dù sao cũng là con buôn.
Tôi không biết có doanh nghiệp nào đang ngồi ở đây, hoàn toàn nói thật khi buôn bán, trao đổi hàng hóa hay không? Tôi không tin là không có, nhưng hiếm lắm.
Tôi có dịch một bài thơ của nhà thơ nổi tiếng Hàn Quốc, Ko Un,  nói về những “kẻ keo kiệt bậc nhất” đã làm nên nền thương ngiệp Hàn Quốc. Đó là anh chàng đi bán nước tiểu thì cho thêm nước lã, còn người đi mua nước tiểu thì trước khi mua hàng còn lấy ngón tay chấm vào nước tiểu rồi mút thử xem có lẫn nước lã vào hay không.
Sau khi nói rằng đó là “những kẻ keo kiết nhất”, đồng thời tác giả cũng khẳng định họ chính là những người mở đầu cho nền thương nghiệp Triều Tiên lúc bấy giờ.
Sự thật của thương nghiệp là thế! Ngoại trừ những kẻ vô lương tâm đem chất độc, sản xuất chất giả trong buôn bán làm hại cuộc sống con người và rối loạn xã hội.
Còn khi người ta sản xuất sản phẩm thì đồng lương là phần quan trọng trong giá thành sản phẩm, quyết định lời lỗ của sản xuất, cho nên phải “cò kè” là vì thế. Trong buôn bán không biết các nhà buôn có bao giờ nói đúng giá mua vào, chi phí giá thành một sản phẩm hay không. Nếu có thì số liệu đó có một chút sai số (mà nhà quản lý hoặc người mua có thể chấp nhận được!) nào không!, vì đó là số liệu trực tiếp liên quan đến thuế má, lời lỗ. Đó mới là nhà buôn, thương nghiệp. Điều này đòi hỏi các nhà quản lí phải nhạy bén và sát thực tiễn cuộc sống.
Thúc Sinh là một nhà buôn, lại lấy được con một nhà “họ Hoạn danh gia”, để không phải mang tiếng ăn bám nhà vợ, đã đi xa tận Lâm Tri để mở cửa hàng buôn bán, thì không thể nói anh ta không biết gì về những nghề lẻ của thương nhân.
Nói tóm lại, trong câu thơ “ Thức Sinh quen thói bố rời,
                                          Trăm nghìn đổ một trân cười như không”
Nguyễn Du không có ý phê phán cái anh chàng Thúc Sinh kia, vì hơn ai hết Nguyễn Du biết rằng vì một nụ cười của phụ nữ mà vua còn mất nước nữa là chỉ mấy đồng tiền, nhưng ông muốn đi sâu vào cái lòng tham lam của Tú Bà, lợi dụng tính “bốc rời “ ấy của Thúc Sinh mà trục lợi.
Trong xã hội hiện nay, biết bao hiện tượng, hành động tốt bị lợi dụng. Kinh tế thị trường cho chúng ta bài học rằng:
    Có tài mà cậy chi tài,
 Chữ tài liền với chữ tai một vần.
    Đã mang lấy nghiệp vào thân,
 Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
    Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
 Mong các doanh nghiệp Việt Nam biết nắm lấy cơ hội để đầu tư đúng mục đích, biết sử dụng đồng tiền đúng theo giá trị của chính nó, để khi “bốc rời” cũng có lý, khi “cò kè” cũng không bị coi là keo kiết.
L.Đ.H

DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NIỆM 197 NĂM NGÀY MẤT ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU VÀ PHÁT THẺ HỘI VIÊN HỘI KIỀU HỌC VIỆT NAM

        
Lễ trao thẻ Hội viên. Ảnh TĐC
          Sáng 29/9/2017 (10/8 Đinh Dậu), trong không gian văn hóa của Di tích cấp quốc gia đặc biệt, Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du, Chi hội Hội kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ dâng hương tưởng  niệm 197 năm ngày mất đại thi hào Nguyễn du và Trao thẻ Hội viên.
          Đến dự buổi lễ có các đồng chí chí Hà Văn Thạch, UVBTV, Trưởng ban tổ chức tỉnh ủy; Đặng Quốc Vinh, UVBTV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Võ Hồng Hải, TUV, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, Phó Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam; Bùi Xuân Thập, TUV, Giám đốc Sở VHTT&DL, Ủy viên Ban thường vụ Hội Kiều học Việt Nam, lãnh đạo Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, đại diện dòng họ Nguyễn Tiên Điền và gần 60 hội viên Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh
Hội viên Hội Kiều học Hà Tĩnh dâng hương tại Khu mộ Đại thi hào Nguyễn Du sáng 29/9/2017. Ảnh TĐC
          Sau lễ dâng hương tưởng niệm lần thứ 197 ngày mất Danh nhân văn hóa Thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du tại Khu mộ và Nhà thờ, là Lễ trao nhận phiên bản mộc bản về Đại thi hào Nguyễn Du trong kho tàng Mộc bản triều Nguyễn của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước cho ngành Văn hóa Hà Tĩnh. Tiếp đó là Lễ phát thẻ Hội viên Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh và sinh hoạt hội năm 2017.
Ông Đặng Quốc Vinh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh phát biểu tại buổi lễ. Ảnh TVS
          Tại buổi lễ, ông Thái Văn Sinh, Trưởng Văn phòng Đại diện Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh đã báo cáo kết quả hoạt động của Ban chấp hành Hội Kiều học Việt Nam sau Đại hội II và hoạt động của Văn phòng Đại diện Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh sau một năm ra mắt và chương trình hoạt động thời gian tới.
Ngày 03/11/2011, Hội Kiều học Việt Nam tiến hành Đại hội thành lập – hay còn gọi là đại hội lần thứ nhất sau hơn 3 năm tiến hành vận động với 180 hội viên  (trên tổng số gần 400 hội viên trong toàn quốc  và 40 khách mời tham dự. Ngày 13/01/2017  Đại hội nhiệm kỳ II (2017 - 2022) Hội Kiều học Việt Nam đã được tổ chức Đại hội có 205 hội viên trên tổng số  600 Hội viên trong cả nước và  45 khách mời tham dự. Đoàn Hà Tĩnh có 20 hội viên tham dự. Đại hội bầu GS. Phong Lê làm Chủ tịch. Ban chấp hành Hội có 33 ủy viên, trong đó Hà Tĩnh có 3 ủy viên. gồm: Ông Võ Hồng Hải, Ông Bùi Xuân Thập và Ông Thái Văn Sinh. Trong 4 phó chủ tịch: Hà Tĩnh có 1 PCT là ông Võ Hồng Hải. Trong  11 ủy viên thường vụ thì Hà Tĩnh có 2: Ông Võ Hồng Hải, Ông Bùi Xuân Thập. Đại hội nhất trí thông qua Điều lệ Hội nhiệm kỳ II với 8 Chương, 26 Điều với tiêu chí: tuyên truyền, quảng bá, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản của Nguyễn Du và Truyện Kiều. Hội có 1 Tạp chí có tên là “Trăm năm trong cõi Truyện Kiều” và 1 Website có tên miền http://kieuhoc.com/.
Trưởng, phó Văn phòng đại diện Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo Hội Kiều học Việt Nam và lãnh đạo tỉnh. Ảnh: TĐC
Văn phòng Đại diện hội kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh dươc thành lập ngày 01 tháng 6 năm 2013 theo Quyết định số 91/QĐ – HKHVN của Chủ tịch Điều lệ Hội Kiều học Việt Nam có 16 hội viên do ông Phạm Quang Ái làm Trưởng Văn phòng.
Sau 3 năm hoạt động, tháng 8/2016 Hội kiều học Việt Nam bổ nhiệm nhân sự mới gồm: Ông Thái Văn Sinh, TBT Tạp Văn hóa Hà Tĩnh làm Trưởng Văn phòng; Ông Nguyễn Ban, Chi hội trưởng Chi hội Văn học Nghệ thuật huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Phó Trưởng Văn phòng; Ông Nguyễn Tùng Lĩnh, Trưởng phòng Di sản Sở VHTTDL Hà Tĩnh làm Phó Trưởng Văn phòng. Ngày 9/9/2016, Văn phòng Đại diện Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh tổ chức ra mắt sau 3 năm thành lập
          Sau 1 năm khi kiện toàn Văn phòng Đại diện Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh tổ chức ra mắt đã tổ chức được 5 hoạt động lớn:
1. Về phát triền hội viên: từ 16 hội viên đã phát triển lên 63 hội viên và xây dựng được hồ sơ hội viên và làm thẻ cho hội viên.
2. Chuẩn bị nội dung, kế hoạch và tham gia tổ chức giỗ lần thứ 196 năm Đại thi hào Nguyễn Du vào 10/8 năm Bính Thân 2016.
3. Tham gia chuẩn bị Đại hội II gồm tài liệu và vận đông tài chính.
4. Xuất bản tập sách “Nguyễn Du Truyện Kiều với quê hương Hà Tĩnh”
5. Tổ chức Lễ dâng hương tưởng  niệm 197 năm ngày mất đại thi hào Nguyễn du và Trao thẻ Hội viên.
Từ nay đến 2018, Văn phòng Đại diện Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh sẽ triển khai 6 đầu việc việc chính như sau:
1. Phát triển hội viên và tổ chức các phân chi hội viên theo khu vực.
2.Tổ chức sinh hoạt 3 tháng 1 lần
3.Xây dựng quỹ Kiều học Hà Tĩnh
4.Xuất bản 01 cuốn sách về kiều học
5.Làm Website  Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh
6.Tổ chức 01 chuyến dã ngoại cho Hội viên thăm những nơi Nguyễn Du từng sống và làm việc ở Huế và Quảng Bình./.





"CUNG ĐÀN THÚY KIỀU", MỘT CA KHÚC ĐẶC SẮC



LTS: Một ca khúc kết hợp nhuần nhuyễn hơi thở của ca trù cổ xưa và phong cách đương đại, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đời thường và sân khấu âm nhạc, giữa ca sĩ và nhạc sĩ . Theo Triết học thì đó là "sự thống nhất của 2 mặt đối lập" hay nói cách khác là sự kết hợp nhuần nhuyễn 2 mặt đối lập. Xin trân trong giới thiệu với độc giả nhạc phẩm này của Ngọc Thịnh ( Bản MP3).


DOANH NHÂN VỚI TRUYỆN KIỀU Và TRUYỆN KIỀU VỚI DOANH NHÂN, MỘT HỘI THẢO ĐÁNG QUAN TÂM


 Để  kỷ niệm 197 năm ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du (10/8 Đinh Dậu) và tiến tới kỷ niệm ngày doanh nhân Việt Nam 13-10, Hội Kiều học Việt Nam phối hợp với Công ty HANVICO tổ chức hội thảo này.
             > Thành phần:
- Các doanh nhân trong và ngoài nước.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa trong cả nước.

            > Khách mời:

- Ban Tuyên giáo Trung ương và Hà Nội
- Lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh
- Đài Truyền hình Việt Nam
- Đài Tiếng nói Việt Nam
- Đại diện một số doanh nghiệp và tổ chức liên quan.

            >Thời gian: Thứ 7 váo 8 giờ ngày 30/9/2017.
> Địa điểm: Hội trường tầng 2, NXB Tài nguyên - môi trường và Bản đồ Việt Nam, số 85 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội.
> Đơn vị tổ chức:        Hội Kiều học Việt Nam và Tổng Công ty Hanvico.
                                      Đồng chủ trì: GS Phong Lê và TS. Phạm Văn Tuần.

HẢI ĐƯỜNG LẢ NGỌN ĐÔNG LÂN


Hoa Hải Đường

                                                                                                                             Vĩnh Sinh
Ở miền Bắc và miền Trung có một loài hoa đẹp nở vào đầu xuân, thân và cành cây cứng cáp, cao vừa phải; hoa năm cánh màu trắng, đỏ thắm hay hồng tươi; nhụy hoa màuvàng đậm nhưng không có hương thơm. Dân gian quen gọi loài hoa này là hoa “hải đường”. Trong Từ điển tiếng Việt (1997), cây “hải đường” được định nghĩa là “Cây nhỡ cùng họ với chè, là dày có răng cưa, hoa màu đỏ trông làm cảnh”. Từ điển Việt-Anh và Việt-Pháp thường dịch “hải đường” là camellia/ camélia.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhắc đến hoa hải đường hai lần nhằm gợi đến nàng Kiều:
Hải đường lả ngọn đông lân,
Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà 1.
(Hàng 175-178)
Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng
(hàng 1283 – 1284)
Sự cách biệt giữa một cây mang tên là “hải đường” có thân và cành cây cứng cáp mà tôi hằng thấy trong những khu vườn cổ ở Huế, với ấn tượng về một cây hải đường mảnh khảnh như đã được miêu tả qua những vần thơ trên đã khién tôi thắc mắc trong một thời gian khá lâu. Không lẽ Tiên Điền tiên sinh lại miêu tả cây hải đường thiếu chính xác đến thế? Niềm hoài nghi đó được giải tỏa khi chúng tôi tình cờ được thấy tận mắt cây hải đường đúng như tiên sinh đã miêu họa trong Kiều.
Một sáng mùa xuân cách đây đã có hơn 40 năm (ngày đó tôi còn là một du học sinh ở Nhật), khi đang đi bách bộ quanh khu cư xá du học sinh ở một vùng khá yên tĩnh tại Đông kinh, tôi chợt thấy một cây hoa mảnh khảnh, cành trĩu hoa màu hồng tươi. Loài hoa này tôi chưa bao giờ thấy ở Việt Nam. Nhân có người đi qua, tôi hỏi hoa ấy tên gì. Ông ta bảo : “Kaidô desu yo” (Hải đường đấy mà!). KHông hiểu linh tính nào đó đã cho tôi biết Kaidô địch thị là loài hoa hải đường “lả ngọn đông lân”mà Nguyễn Du đã nhắc đến trong Kiều! Cho đến bây giờ khi ngồi viết những dòng này, tôi vẫn chưa quên được cảm giác khoan khoái nhẹ nhàng lúc đó khi vừa vỡ lẽ một điều thắc mắc đã ám ảnh tôi khá lâu.
Đại từ điển tiếng Nhật Nihongo daijiten định nghĩa cây hải đường ở Trung Quốc (haitang) và ở Nhật (kaidô) như sau:
“Cây nhỡ rụng lá, thuộc họ tường vi (rose) trồng làm cây kiểng trong vườn. Hoa nở vào tháng 4 dươnglịch, sắc hồng nhạt. Loại có trái giống như quả táo tây, có thể ăn được. Cao từ 2 đến 4 mét”. Cuốn từ điển này còn chua thêm là hoa hải đường dùng để ví với người con gái đẹp, đặc biệt khi muốn nói lên nét gợi cảm hay vẻ xuân tình. Theo “Dương Quý Phi truyện” trong Đường thư, một hôm Đường Minh Hoàng ghé thăm Dương Quý Phi, nghe nàng còn chưa tỉnh giấc, nhà vua bảo: “Hải đường thụy vị túc da?”, nghĩa là “Hải đường ngủ chưa đủ sao?”. Trong văn học cổ Trung Quốc, cành hoa hải đường trong cơn mưa thường dùng để ví với dáng vẻ người con gái đẹp mang tâm trạng u sầu. Tên khoa học của cây hải đường là Malus spectabillis; tiếng Anh gọi là flowering cherry-apple (hay Chinese flowering apple, Japanese flowering crab-apple và nhiều tên khác nữa), tiếng Pháp gọi là Pommier sauvage.
Như vậy tên tiếng Việt của cây camellia/camélia mà từ trước đến nay ta thường gọi lầm là “hải đường”đúng ra phải gọi là gì? Có người gọi camellia/camélia là hoa trà, hay trà hoa. Chẳng hạn, tiểu thuyết La Dame aux camélias của Alexandre Dumas (Dumas fils) trước đây có người dịch là “Trà hoa nữ” hay “Trà hoa nữ sử” và Từ điển Việt Anh của soạn giả Bùi Phụng cũng dịch “trà hoa” là camellia. Tuy dịch camellia là trà hoa (hay hoa trà) nghe có lý hơn là “hải đường”, nhưng theo thiển ý cũng chưa được ổn cho lắm vì hoa trà chỉ có màu trắng mà còn có màu hồng và màu đỏ. Ta thử xem người Nhật và người Trung Quốc gọi camellia/camélia là gì. Tiếng Nhât gọi cây này là Tsubaki, chữ Hán viết là “xuân”, gồm chữ bộ “mộc”bên trái và chữ “xuân”là mùa xuân bên phải. Chữ “xuân”dùng trong nghĩa này nghe quá lạ tai đối với người Việt. Người Trung Quốc gọi camellia/camélia là shancha (sơn trà), sơn trà nghe cũng thuận tai và khá sát sao vì cây này cùng họ với cây chè (trà) và sơn trà nên hiểu là cây “trà dại”hay một biến thể của cây trà.
Đang phân vân chưa biết dùng từ nào trong tiếng Việt để dịch camellia/camélia cho thật sát nghĩa, chúng tôi lướt xem Truyện Kiều một lần nữa. Nào ngờ lời giải cho điều thắc mắc của chúng tôi đã có sẵn ngay trongđó: cụ Nguyễn Du trong tác phẩm bất hủ của mình cũng đã dùng hoa “trà mi”nhằm ám chỉ nàng Kiều, và trà mi chính là từ tiếng Việt tương ứng với camellia/camélia:
Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
(hàng 845-846)
Hoặc:
Chim hôm thoi thót về rừng,
Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành.
(hàng 1091-1092)
Nhưng do đâu chúng ta có thể khẳng định như thế? Việt Nam từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức giải thích về hoa “trà mi”như sau: “thứ cây, có hoa đẹp, sắc đỏ, hoặc trằng mà không thơm”. Trà mi cùng họ với cây chè, có sắc đỏ hoặc trăng, và không có hương thơm – đó chính là những đặc điểm của cây camellia/camélia mà chúng ta đã đề cập ngay ở đầu bài.
Một điều thú vị và rất đáng chú ý: “trà mi”là một tên gọi thuần Nôm, không có trong chữ Hán! Nói môt cách khác,thay vì gọi “sơn trà”như người Trung Quốc, ta chọn tên “trà mi”là cách gọi riêng của người Việt. Trong ấn bản chữ Nôm của Truyện Kiều (bản Lâm Nhu Phu, 1870), hai chữ “trà mi”được viết bằng hai chữ Nôm như sau: chữ “trà”được viết với bộ “dậu” với chữ “mi”là cây kê bên phải (từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức mượn chữ “mi”tiếng Nôm này). Trong Từ điển Truyện Kiều, học giả Đào Duy Anh trong phần văn bản viết hai chữ “trà mi”là “trà(đồ)mi”nhằm gợi ý “trà mi” cũng có thể đọc là “đồ mi”, tuy nhiên trong phần “Từ điển” lại giải thích là “nước ta có hoa trà mi, nhưng khác với đồ mi của Trung Quốc”. Theo thiển ý, hai chữ Nôm nói trên chỉ có cách đọc là “trà mi”chứ không thể đọc là “đồ mi”, vì trong chữ Han, loài “cây nhỏ, cành lá có gai, đầu mùa hè nở hoa sắc trằng, hoa nở sau các thứ hoa cây khac” mà Đào tiên sinh đã giải thich về “hoa đồ mi” trong cuốn Hán Việt từ điển do tiên sinh biên soạn, chính là hoa mâm xôi (Robus rosacfolius) trongtiếng Việt.
Qua bài viết ngắn ngủi này, chúng tôi hy vọng đã chứng mình được rằng cây hải đường mà chứng ta thường ngỡ là tương ứng với cây camellia/camélia trong tiếng Anh và tiếng Pháp kỳ thực là một loài cây có hoa khác, có tên khoa học là Malus spectabilis. Mặt khác, tên gọi tiếng Việt của hoa camellia/camélia đúng ra phải là trà mi.
Trong Truyện Kiều, cụ Tiên Điền Nguyễn Du – nhà thơ muôn thuở của dân tộc Việt Nam – đã dùng tên của hai loài hoa này chính xác và tách bạch. Tiên Điền tiên sinh mượn hoa hải đường nhằm nói lên những nét yểu điệu gợi cảm của nàng Kiều qua bóng dáng của một Dương Quý Phi kiều diễm. Khi định mệnh đã đưa đẩy Kiều vào tay của Mã Giám Sinh và Sở Khanh – những kẻ “thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương” – tiên sinh đã mượn hình tượng của đóa hoa trà mi nhằm nói lên kiếp hồng nhan trước những thử thách quá ư nghiệt ngã của số phận.
Nhân thể, chúng tôi cũng xin nói rằng trong Đại Nam nhất thống chí, trong phần nói vê các loài hoa ở “Kinh sư”(Huế) và “Phủ Thừa Thiên”, có đoạn nhắc đến hoa hải đường. Vì có liên quan đến bài viết này, chúng tôi xin trích lại nguyên văn: “Kính xét bài thơ ‘Vịnh hải đường’trong Minh Mệnh thánh chế có lời chú rằng: Theo Quần phương phả thì hải đường có bốn loại, là chiêm cánh, tây phủ, thùy lục và mộc qua, ngoài ra lại có hoa vàng loại hoa thơm, nhưng đều là cánh mềm, hoa nhỏ, hoặc sắc vàng, hoặc đỏ lợt, hoặc như yên chỉ, chí có mấy sắc ấy thôi, hải đường phương Nam thì cây cao, lá to vừa dài vừa nhọn hoặc sắc đỏ tươi, ruột có nhị, cánh to mà dày, lúc nở đẹp hơnhoa phù dung, nên tục gọi là “sen cạn”; so với hải đường ở đất Thục thì đẹp hơn nhiều, tựa hồ phương Bắc không có giống hoa hải đường này, cho nên những lời trước thuật có khác. Còn như nói rằng ‘hoa đẹp lá tươi, mềm mại như xử nữ, hây say như Dương Phi say, yểu điệu như Tây Tử thực chưa hình dung hết được vẻ đẹp của hoa ây. Năm Minh Mệnh thứ 17 khắc hình tượng vào Nghị đỉnh. Lại có một loại là Kim ti hải đường”.
Đọc đoạn trích dẫn ở trên, ta có thể thấy là ngay từ thời vua Minh Mệnh đã có sự nhầm lẫn giữa hoa hải đường và hoa trà mi. Những loại hoa có “cánh mềm” trong phần trích dẫn đúng là hoa hải đường, nhưng loại hoa gọi là “Hải đường phương Nam thì cây cao, lá vừa to vừa dài vừa nhọn, hoặc sắc đỏ tươi, ruột có nhị, cánh to mà dày…”thì đúng ra phải gọi là hoa trà mi chứ không phải là hoa hải đường.
Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước đó (dưới triều vua Gia Long), nhưng tại sao thi hào họ Nguyễn lại có thể phân biệt hai loại hoa này rạch ròi đến thế? Chúng ta có thể phỏng đoán là ngoài những kiến thức thu thập qua sách vở, chắc hẳn Nguyễn Du đã thấy tận mắt hai loài hoa này trong lần đi sứ sang Trung Quốc vào năm 1813.
Một thức giả cũng vừa cho chúng tôi hay là khi tìm trong Truyện Kiều đối chiếu của Phạm Đan Quế (Nxb Hà Nội, 1991) hai câu có từ “hải đường” trích dẫn ở trên thì “thấy đó là những câu tả cảnh tả tình do Nguyễn Du sáng tác”, chứ không có trong nguyên truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (bản của Nguyễn Đình Diệm). Điều này càng xác nhận sự hiểu biết chính xác về cây cỏ cũng như tinh thần “vận dụng sáng tạo”của Tiên Điền tiên sinh khi viết Truyện Kiều.■
1. Theo học giả Hoàng Xuân Hãn và một số nhà nghiên cứu khác, chữ “gieo”trong câu này phải đọc “treo” mới đúng, hoăc chữ “tỏ”trong câu “con ong đã tỏ đường đi lối về”phải đọc là “mở”. Vì chưa bắt kịp với những nghiên cứu về Truyện Kiều hiện nay, trong khuôn khổ bài này chúng tôi xin tạm thời dựa theo cách đọc hiện hành.


THÔNG BÁO MỜI DỰ LỄ DÂNG HƯƠNG TƯỞNG NIỆM LẦN THỨ 197 NGÀY MẤT ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU VÀO 7 GIỜ NGÀY 29-9-2017



GS. Phong Lê phát biểu tại Lễ giỗ lần thứ 196 Đại thi hào Nguyễn Du
Ngày 08/9/1924 (10/8/ Giáp Tý), Ban Văn học Hội khai trí Tiến Đức tổ chức giỗ lần thứ 104 Đại thi hào Nguyễn Du với sự tham gia của nhiều học giả, nhân sĩ, trí thức nổi tiếng cả nước.
Ngày 10/09/2016 (10/8/ Bính Thân), tỉnh Hà Tĩnh, Hội Kiều học Việt Nam đã phối hợp tổ chức giỗ lần thứ 196 Đại thi hào Nguyễn Du tại Tiên Điền, Nghi Xuân với sự tham gia của nhiều học giả nổi tiếng và các hội viên Hội Kiều học Việt Nam trong toàn quốc.
Năm nay, vào chiều 29/9/2017 (10/8/ Đinh Dậu), Văn phòng Đại diện Hội kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh sẽ tổ chức Lễ dâng hương tưởng niệm lần thứ 197 ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du và Lễ phát thẻ Hội viên, Báo cáo chương trình hoạt động năm 2017.
Thành phần tham dự:
Tham dự buổi lễ sẽ có lãnh đạo Hội Kiều học Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh, UBND huyện Nghi Xuân; Ban quản lý Khu di tích Nguyễn Du; 62 Hội viên Hội kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh và Phóng viên Báo Hà Tĩnh, Đài PTTH Hà Tĩnh, Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh.
Thời gian, địa điểm:
- Thời gian:  7giờ 15 đến 11 giờ 30 ngày 29/9/2017
- Địa điểm: Khu di tích Đại Thi hào Nguyễn Du, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân

Dâng hương tại mộ giỗ lần thứ 196 Đại thi hào Nguyễn Du

        Chương trình sẽ có các nội dung chính sau:
1. Dâng hương, hoa tại khu mộ: 7giờ 15 đến 7 giờ 45 ngày 29/9/2017
2. Dâng hương tại nhà thờ: 8 giờ 00 đến 8 giờ 45 ngày 29/9/2017
3. Lễ trao tặng mộc bản về danh nhân văn hóa Thế giới Đại Thi hào Nguyễn Du của Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước: từ 9giờ 00 đến 10h giờ 00 ngày 29/9/2017. Địa điểm: Hội trường lớn Ban quản lý di tích Nguyễn Du.
3. Lễ trao thẻ hội viên và sinh hoạt hội quý III/2017: từ 10giờ 00 đến 11h giờ 30 ngày 29/9/2017. Địa điểm: Hội trường lớn Ban quản lý di tích Nguyễn Du.
      4. Mời cơn thân mật các hội viên và đại biểu dự lễ.  11 giờ 30 ngày 29/9/2017
                        Vậy xin thông báo để các hội viên quan tâm, sắp xếp thời gian dự lễ.
(Có xe đưa đón các đại biểu và hội viên đi dự lễ xuất phát từ Văn phòng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, số 18, Đại lộ xô viết Nghệ Tĩnh, thành phố Hà Tĩnh, xuất phát vào lúc 6 giờ 15’. Quý vị đăng ký qua điện thoại của bà Nguyễn Thị Nga: 0979560622)

VĂN TẾ ĐẠI THI HÀO DÂN TỘC NGUYỄN DU TẠI LỄ GIỖ LẦN THỨ 196 (10/8 BÍNH THÂN)


 Nhà văn Hoàng Khôi (Vũ Ngọc Khôi), phụng đọc tại buổi lễ. Ảnh: TVS

Phụng soạn: Nhà thơ Hoài Yên quê An Khánh, Hà Đông, Hà Nội.
       Phụng đọc: Nhà văn Hoàng Khôi (Vũ Ngọc Khôi) 

(Tùng! Tùng Tùng!)
Ô hô…!
1. Mây Hồng Lĩnh khi tan khi hợp, thiết tha câu hữu cảm tất thông (Tùng)
Nước Lam giang lúc đục lúc trong, khẩn khoản chữ hữu cầu tất ứng (Tùng!Tùng!Tùng)
Nhớ linh xưa,
        2. Từ Nguyễn Thiến tại miền Canh Hoạch / danh để khoa bảng đầu tiên (Tùng)
   Đến Tố Như ở chốn Tiên Điền / nghiệp nối thi thư đệ nhất (Tùng/Tùng/Tùng).
         3. Cả dòng tộc thấm nhuần ơn mưa móc / dẫu đã biết Lê Triều
                                mạt vận / chữ cô trung luôn dạ tạc lòng ghi (Tùng)
          Tấm tình riêng cảm phục đấng anh hùng / Dù cho rằng Nguyễn Huệ                                                                                                                                    
                    ngụy triều / vẫn tôn kính dẫu nhà tan nước mất (Tùng/Tùng/Tùng)     

                                    NHỚ TIÊN SINH
4. Bản chất hào hoa phong nhã / thông tuệ tính trời (Tùng)
                           Nếp nhà phú hậu danh gia / văn chương nết đất. (Tùng/Tùng/Tùng)
          5.  Ra Thăng Long khi cha mẹ mất / nhờ anh trai nuôi dưỡng /
                       học hành hôm sớm chuyên cần (Tùng)
             6. Vào Quỳnh Phụ lúc cửa nhà tan / cậy bố vợ cưu mang /
                                      lưu lạc tháng ngày tất bật. (Tùng/Tùng/Tùng)
        
                                         THƯƠNG ƠI!
                        7.  Hiền thảo nhân tình
                                Uyên thâm học vấn (Tùng).
                        8. Chí lớn mà chẳng gặp thời 
                           Tài cao nhưng đành lỡ vận! (Tùng/Tùng/Tùng)
          9. Ba mươi tuổi, mái đầu  trắng tuyết / thư kiếm dở dang (Tùng)
         Mười năm trời, kiếp sống lầm than / thân danh lận đận! (Tùng/Tùng/Tùng)
          10. Về Tiên Điền đất tổ / từng sắm vai liệp hộ nhiều phen (Tùng)
             Ở Hà Tĩnh quê cha / đã thử sức điếu đồ lắm bận. (Tùng/Tùng/Tùng)    
         11. Sức nho sinh trói gà không nổi /
                                    thú điền viên, quá sức nhọc nhằn (Tùng)
             Tài kẻ sĩ nổi tiếng mà chi /
                                    Chuyện tiền bạc, vô cùng túng quẫn! (Tùng/Tùng/Tùng)


          12. Khi đi chơi phường vải / đối thoại cùng o Sạ, o Uy (Tùng)
             Lúc dự hát ca trù / giao kết với Trường Lưu, Cổ Đạm (Tùng/Tùng/Tùng)
          13. Đọc sách cổ / gặp Kim Vân Kiều truyện /
                                           cả tình cả ý tương liên (Tùng)
              Múa bút thần / viết Đoạn Trường Tân Thanh / 
                                            chữ mệnh chữ tài tương đố!  (Tùng/Tùng/Tùng)
14. Giấc đoạn trường, giọt máu chảy đầu ngọn bút/ con mắt trông sáu cõi sâu sa (Tùng)
Khúc bạc mệnh, nước mắt thấm trên tờ hoa/ tấm lòng nghĩ tời ngàn đời gắn bó (Tùng/Tùng/Tùng)
          15. Thơ dự vào hàng ngũ tuyệt / văn tài nhả ngọc phun châu (Tùng)          
       Nôm đứng ở bảng đầu tiên / diệu nghệ thêu hoa dệt gấm. (Tùng/Tùng/Tùng)     

                                  TỚI NAY CHÚNG CON
           16.  Thưởng  thơ Nguyễn / người đều khóc Nguyễn /
                                  đời đắng cay tựa ớt tựa gừng (Tùng)
                Xem Truyện Kiều / ai nấy thương Kiều /
                                  kiếp chua chát như sung như mận! (Tùng/Tùng/Tùng)
         
           17. Khác mệnh Kiều nhiều năm trời lận đận / xứ Hồng Lam đang rạng rỡ, hanh thông (Tùng)
            Mới quê hương lắm khuôn mặt trẻ trung / dân Hà Tĩnh đang chung tay phát triển (Tùng/Tùng/Tùng)
           18. Đất địa linh ngút ngàn hồn thiêng sông núi/ mong người phù hộ độ trì để quốc thái – dân an (Tùng)
                Vùng nhân kiệt chan chứa anh linh thi hào / khấn cụ dắt dìu nâng đỡ cho quê giàu, nước mạnh (Tùng/Tùng/Tùng)
             19. Hội Kiều học / luận bình nghiên cứu /                
                                                tác phẩm mãi vang xa (Tùng/Tùng)
               UNESCO / công nhận tôn vinh  /
                                                Phương danh càng sâu đậm! (Tùng/Tùng/Tùng)
    
                                              THỰC LÀ:
                                    Một đời vinh hiển ngàn thâu
                                 Phải đâu một nấm cỏ khâu xanh rì!
              Ô hô…! Phục duy! Thượng hưởng (Tùng!Tùng!Tùng…)

                                                                                             một hồi trống)

THƯ NGỎ

Kính thưa quý vị!      Nguyễn Du (1765-1820) là Đại thi hào của dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hóa Thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp của ông ...